Để hướng dẫn sự chẩn đoán danh thiếp bệnh gây đau bụng, thuốc cường dương ta cần coi xét các bệnh có trạng thái gây đau ở bụng trên, bụng dưới huyễn hoặc đau khắp bụng.
1 Đau bụng trên
- Đau bụng trên bên phải thường là vì căn nguyên gan mật. Cơn đau sạn mật thường xảy ra sau bữa ăn. Bệnh nhân đau liên tục, cường độ tăng dần, kéo dài từ 15 phút đến vài giờ, thường không quá 4 giờ, có thể kèm theo ói mửa. Chẩn đoán cốt yếu dựa vào siêu âm, thỉnh thoảng cần xét nghiệm chuyên môn khác. Khi sạn túi mật có biến chứng nhiễm trùng, bệnh nhân bị sốt, đau kéo dài, có khi bị vàng da, cần nhập viện can thiệp ngoại khoa.- Sạn túi mật có thể di chuyển, làm tắc nơi ống dẫn mật và ống dẫn dịch tụy, gây viêm tụy cấp. Trong trường học hợp này bệnh nhân đau dữ dội, đau ở giữa bụng trên, thường phải ngồi để bớt đau, thường ói mửa. Bệnh nhân dịp cần nhập viện cấp bách cấp, điều trị hồi sức, cần can thiệp ngọai khoa. Một số trường hợp viêm tụy cấp có trạng thái bởi chưng uống quá nhiều rượu, huyễn hoặc ở Việt nam có thể vì sán lãi.- Đau bao tử. Trong trường học hợp loét bao tử tá tràng, bệnh nhân đau khi đói và 2 giờ sau khi ăn. Trong loét cấp tính, bệnh nhân dịp có thể ói. Trong viêm bao tử, bệnh nhân dịp thường đau ngay sau khi ăn. Người trẻ thường bị loét dạ dày vì vi trùng H. pylori. người lớn tuổi thường bị loét bởi vì dùng thuốc giảm đau loại chống viêm không steroid, trong trường học hợp này bệnh nhân có thể loét mê hoặc chảy máu dạ dày mà không đau.- Nhiều người có cảm giác khó chiụ, dầy bụng, ăn không tiêu, tuy rằng chụp hay soi dạ dày không thấy tổn thương xót cơ thể, do đó trong thực tế ta có trạng thái điều động trị thử một số người trẻ không có dấu hiệu trầm trọng bằng danh thiếp thuốc chống acid và theo dõi sự háp ứng.- Cần cẩn trọng ở những người lớn tuổi do một mệnh người tuy có triệu chứng mơ hồ không rõ rệt lại bị ung thư dạ dày bởi chưng đó cần phải chụp huyễn hoặc soi bao tử để tìm nguyên do để không bỏ sót một bệnh nguy hiểm.- Nhiều người đau vùng thượng vị bởi chưng trào ngược dịch vị, chụp bao tử không thấy loét, soi thực quản và bao tử có trạng thái thấy dấu viêm quýnh quáng thực quản bởi chưng acid từ bao tử trào ngược lên. Có khi cần làm xét nghiệm chuyên môn khác đê chứng tỏ tình trạng này.
2. Đau bụng dưới
- Đau bụng dưới bên phải tức là hố chậu phải, trước hết cần phải nghĩ đến viêm ruột thừa. Bệnh nhân dịp bắt đầu đau quanh rốn, sau đó chuyển di xuống hố chậu phải. Bệnh nhân dịp có thể sốt nhẹ, buồn ói, thường không đi cầu, có điểm đau rõ rệt. tình trạng nặng dần, cần nhập viện để can thiệp ngoại khoa. hầu tránh biến chứng.- đau hố chậu trái, ngoài chứng viêm đại tràng và kiết lỵ, cần nghĩ đến viêm tiền nang đại tràng ở người lớn tuổi. Chỉ nang là những túi phình của thành ruột già, giống như hình ngón tay. Chỉ nang có trạng thái bị viêm nhiễm, có thể chảy máu hoặc bị thủng.- cần phải nghĩ đến ung thư ruột già, ở người lớn tuổi, cần phải tìm máu ẩn trong phân và soi đại tràng sạn thiết niệu.- sạn từ thận chuyển di xuống ống dẫn tiểu, khiến cho ống dẫn tiểu phải co thắt,
bệnh xuất tinh sớm gây cảm giác đau. Bệnh nhân dịp đau một bên, đau dữ dội, cơn đau gò, khởi hành từ sau lưng lan ra phía trước có trạng thái lan xuống bộ phận sinh dục. Bệnh nhân thường bị tiểu khó, nước tiểu thường có máu.
3. Đau khắp bụng
- Một số trường học hợp cấp thiết như tắc ruột, bệnh nhân đau quặn, ói mửa,- không đi đại tiện được, không trung tiện được.- Viêm phúc mạc, bố thí dụ bởi chưng viêm ruột thừa tạo thành áp xe, mủ lan vào trong màng bụng, cần áp điệu phẫu.- một số mệnh trường học hợp ít gặp như tắc mạch máu ruột, gây đau sau khi đối xử những người lớn tuổi có nguy cơ bệnh tim mạch.- phình động mạch chủ vỡ chảy máu vào ổ bụng.- nhiều trường học hợp khác là bởi vì rối loạn tiêu hóa mê hoặc là hội chứng ruột dễ bị kích thích. Bệnh nhân đau không rõ rệt, thường đau khắp bụng, thường phải đi tiêu ngay sau khi ăn, sau khi đi đại tiện thì bớt đau, bệnh nhân phải đi đồng nhiều lần, do đi sau nhiều lần cho nên phân lỏng hoặc mềm. Điểm đáng để ý là bệnh nhân dịp không đi đồng ban đêm. Chẩn đoán bởi vì loại trừ các căn nguyên cơ thể như u bướu, viêm, nhiễm trùng, sán lãi. Có người bị táo bón và đau bụng, có người khi bị táo bón khi bị tiêu chảy. Bệnh khá phổ biến, không hiểm nguy nhưng gây phiền toái, điều trị nhằm giảm bớt triệu chứng.
4. Đau bụng ở phụ nữ. Chẩn đoán cần dựa vào tuổi và kinh nguyệt.
- Viêm dạ con phần phụ. Bệnh nhân thường có huyết trắng, đau giữa bụng dưới, có trạng thái sốt và ói mửa.- bướu buồng trứng xoắn, vỡ hoặc chảy máu.- Thai ngoài tử cung, xảy ra 6-8 tuần sau khi có kinh, ra huyết âm đạo nhẹ. thăm nhà giam thấy khối u ngoài tử cung. Thai ngoài dạ con chưa vỡ không đau. Khi thai ngòai dạ con vở chảy máu vào ổ bụng, gây đau, trụy mạch, cần giải phẫu cấp bách cấp.
5. Đau bụng ở trẻ em.
Trẻ em có trạng thái có những căn nguyên đau bụng như người lớn. Trẻ em nhỏ có trạng thái bị lồng ruột, là một dạng tắc ruột. Trong đa số trường học hợp, đau bụng ở trẻ em không có nguyên do cơ thể, cần được điều trị triệu chứng, chống co thắt, điều động trị táo bón, trang mục đích là làm cho các em trở lại đi học được. Chỉ danh thiếp trường hợp có dấu hiệu báo động như sốt, ói mửa, xuống cân, thiếu máu, cần đẩy mạnh xét nghiệm để tìm nguyên nhân. Bs Nguyễn Văn Ðích
0 nhận xét:
Đăng nhận xét